may han tig

may han mig

may thao vo

day han co2

day han mig

may nen khi truc vit

Chuyên đề kỹ thuật

Nhu cầu protein trong thức ăn thích hợp cho tôm thẻ chân trắng nuôi trong mô hình bán thâm canh và biofloc

Thức ăn đóng một vai trò quan trọng và nó quyết định đến lợi nhuận bởi vì chi phí thức ăn luôn vượt quá 50% tổng chi phí trong nuôi tôm. Trong số các thành phần dinh dưỡng trong thức ăn, protein là thành phần quan trọng nhất và cũng có giá cao nhất. Nhu cầu protein thô của tôm thẻ chân trắng trong thức ăn khoảng 30-44% tùy theo giai đoạn tăng trưởng. Ngoài ra, ảnh hưởng của thức ăn tự nhiên đến nhu cầu protein trong thức ăn trong các mô hình nuôi khác nhau cũng khác nhau. Trong các hệ thống nuôi quảng canh truyền thống và bán thâm canh, thức ăn tự nhiên (động vật đáy và phiêu sinh động vật) đóng góp khoảng 70% nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho tôm nuôi. Do đó, xác định mức độ protein thích hợp cho tôm ở từng mô hình nuôi là cần thiết. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm đánh giá và so sánh các chỉ tiêu tăng trưởng, năng suất tôm, chi phí sản xuất đối với mô hình nuôi sử dụng công nghệ biofloc và bán thâm canh với các mức protein khác nhau trong thức ăn. 

Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức với các mức protein khác nhau trong thức ăn như sau: 24.3, 30.3, 32.9 và 36.7%. Đối với mô hình bán thâm canh: Tôm post dùng cho thí nghiệm được ương trong ao đất đến khi đạt được trọng lượng trung bình 4.7 ± 0.3 g. Tổng cộng khoảng 2.1 triệu con tôm với trọng lượng 4.7 ± 0.3 g được thả nuôi trong 11 ao có diện tích từ 1.14 - 1.26 ha, với mật độ trung bình khoảng 15.5 con/m2. Nghiệm thức có hàm lượng protein 24.3% được lặp lại hai lần, các nghiệm thức còn lại lặp lại 3 lần. Đối với hệ thống biofloc: Thí nghiệm được tiến hành trong bể, tôm thí nghiệm có trọng lượng trung bình 5.3 ± 0.1 g/con. Tôm được nuôi với mật độ 250 con/m3. Các thông số môi trường khi thả tôm vào nuôi thí nghiệm: độ mặn 21‰, nhiệt độ 27°C, oxy hào tan 6.3 mg/L, tổng chất rắn lơ lửng TSS 357 mg/L, độ kiềm 70 mg/L, hàm lượng ammonia 0.51 mg/L, hàm lượng nitrite 0.02 mg/L và pH = 7.2. Sau 49 ngày thí nghiệm, các chỉ tiêu tăng trưởng của tôm được ghi nhận và giá thành sản xuất 1 kg tôm được tính toán trên cả hai mô hình nuôi. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với mô hình nuôi bán thâm canh, tôm cho ăn thức ăn với hàm lượng protein 32.9% có trọng lượng cuối cùng và tốc độ tăng trưởng cao nhất và chi phí thức ăn thấp nhất so với các nghiệm thức còn lại. Đối với mô hình biofloc, trọng lượng cuối cùng của tôm, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ tăng trưởng và năng suất của tôm cao nhất theo thứ tự ở các nghiệm thức cho tôm ăn thức ăn với hàm lượng protein là 30.3, 32.9 và 36.7% so với nghiệm thức 24.3% protein trong thức ăn. Chi phí thức ăn thấp nhất trong mô hình biofloc được xác định ở nghiệm thức thức ăn có 30.3% protein, trong khi đó, đối với mô hình bán thâm canh trọng lượng tôm cuối cùng cao nhất, tăng trọng cao nhất và chi phí thức ăn thấp nhất ở nghiệm thức 32.9% protein.     

Tóm lại, tôm thẻ chân trắng nuôi trong mô hình bán thâm canh và biofloc cần cho ăn thức ăn với hàm lượng protein khoảng 33.0 và 30.0%, theo thứ tự. Ở mức protein này, các chỉ tiêu tăng trọng và năng suất tôm đạt cao nhất, trong khi chi phí sản xuất thấp nhất.   

Protein levels for Litopenaeus vannamei in semi-intensive and biofloc systems

The aims of this research were to evaluate the zootechnical performance and dietary cost for the marine shrimp (Litopenaeus vannamei) cultured in a superintensive biofloc system and a conventional semi-intensive system using diets containing different protein levels. Four different diets, with crude protein (CP) contents of 24.3, 30.3, 32.9 and 36.7% were produced. In the laboratory, experimental culture in the biofloc system was performed in twelve experimental units at a density of 250 shrimp m− 3, the four treatments were performed in triplicate. The semi-intensive culture system was applied at the commercial farm in eleven ponds containing 15.5 shrimp m− 2. After 49 days, the zootechnical performance of the shrimp was rated, and the cost per kilogram of shrimp was produced by both culture systems. In the semi-intensive system, the shrimp fed with a diet containing 32.9% CP showed a higher final weight and weight gain and a lower dietary cost. In the biofloc culture, a higher final weight, weight gain, growth rate and productivity were observed in shrimp fed diets containing 30.3, 32.9 and 36.7% CP compared with those fed a diet containing 24.3% CP. The lowest dietary cost of shrimp farming in the biofloc system was registered in the shrimp fed the 30.3% CP diet, whereas, in the semi-intensive system, the highest final weight, highest weight gain and lowest cost were observed in shrimp fed the 32.9% CP diet.

Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
Source: Adolfo Jatobá et al. Aquaculture, Volume 432, 20 August 2014, Pages 365–371

Quay lại


Ý kiến của bạn

Nhập đoạn mã bên cạnh

Hỗ trợ trực tuyến

  • Bộ Phận Tôm BỘ PHẬN TÔM
  • Bộ phận kỹ thuật và kinh doanh
  • Mr. Đông - 0932.814.833
    E: n.thedong29@gmail.com
  • Bộ phận Marketing và xét nghiệm
  • Bộ Phận Cá BỘ PHẬN CÁ
  • Bộ phận kỹ thuật và kinh doanh
  • Mr. Tài - 0939.705.649
    E: thtai081289@gmail.com
  • Bộ phận Marketing và xét nghiệm
  • Mr. Tuân - 0901.077.688
    E: tranhoangtuan77@gmail.com

ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN

Email:

THƯ VIỆN HÌNH ẢNH

ĐỐI TÁC